Dữ liệu y khoa

Viện Di truyền Y học: K-track theo dõi hiệu quả điều trị ung thư và nguy cơ tái phát

  • Tác giả : An Khánh
Thông qua phát hiện tồn dư tối thiểu của khối u, K-track đánh giá hiệu quả điều trị, theo dõi tái phát 5 loại ung thư vú, phổi, gan, dạ dày, đại trực tràng.

K-track do đội ngũ nghiên cứu và phát triển của Viện Di truyền Y học - Gene Solutions giới thiệu. Đây một bước đột phá mới trong hệ sinh thái giải pháp gene, giúp tạo ra “lá chắn tiếp sức” chống lại ung thư, nâng cao hiệu quả phòng ngừa và chăm sóc y tế theo cách cá thể hóa dành cho bệnh nhân.

hinh1.png
Ứng dụng lâm sàng K-track cùng với công nghệ sinh thiết lỏng Spot-Mas có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cấp hệ sinh thái tổng hợp các giải pháp gene chuyên biệt dành cho phòng ngừa và điều trị ung thư. Nguồn: Gene Solutions

Ung thư là bệnh diễn biến phức tạp với nguy cơ tái phát cao. Đối với những bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư, nỗi ám ảnh về quá trình điều trị từ khi phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, cho tới điều trị hỗ trợ làm giảm nhẹ ảnh hưởng của bệnh đến các cơ quan tưởng chừng như kéo dài bất tận.

Theo cancer.gov (Mỹ), kể cả sau khi được phẫu thuật triệt căn, khả năng cao vẫn có một lượng các tế bào ung thư tồn tại trong cơ thể gọi là tồn dư tối thiểu của khối u (Minimal Residual Disease) tạo thành các loại ung thư tái phát.

30 - 55% người mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ (loại ung thư phổi phổ biến nhất) sẽ tái phát. Với ung thư phổi có tế bào nhỏ, tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn với 7/10 trường hợp tái phát trong vòng 1 - 2 năm sau phẫu thuật.

Theo New England Journal of Medicine (Mỹ), nguy cơ tái phát xa với ung thư vú ước tính dao động từ 10 - 41% trong thời gian từ 5 - 20 năm sau khi ngừng trị liệu.

Người mắc ung thư dạ dày, một trong những loại ung thư gây tử vong cao nhất thế giới, có khả năng tái phát từ 60 - 70% trong 2 năm kể từ khi thực hiện phẫu thuật triệt căn.

Ứng dụng K-track bỗ trợ cho các phương pháp theo dõi tái phát đang được sử dụng, giúp các bác sĩ ung thư có thêm phương pháp chẩn đoán và hỗ trợ điều trị hiệu quả cho bệnh nhân.

Cơ chế hoạt động của K-track thông qua việc giải trình tự mẫu mô u và mẫu máu của bệnh nhân sau thời điểm phẫu thuật triệt căn từ 2 - 4 tuần; phân tích các đặc điểm riêng biệt của mẫu mô u để tìm ra các đột biến sinh dưỡng đặc trưng nhất.

Nhờ đó, phát hiện có hay không sự tồn tại của các gene di truyền DNA ngoại bào được phóng thích từ khối u vào máu (circulating tumor DNA - ctDNA).

hinh2.jpg
Công nghệ sinh thiết lỏng phát hiện nhiều loại ung thư chỉ với một lần thử máu. Nguồn: Shutterstock

Ứng dụng lâm sàng K-track cùng với công nghệ sinh thiết lỏng Spot-Mas có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cấp hệ sinh thái tổng hợp các giải pháp gene chuyên biệt dành cho phòng ngừa và điều trị ung thư.

Từ đó, phát hiện sớm ung thư tái phát, tiên lượng và có phương án điều trị kịp thời giúp cải thiện chất lượng sống và thời gian sống của mỗi bệnh nhân ung thư.

An Khánh