Y học và đời sống

Phát hiện sớm u não

U não là những khối u hình thành do sự phát triển bất thường của các tế bào trong não. Phát hiện sớm u não để điều trị sớm.

U não có nhiều loại

U não có thể bắt đầu ngay từ trong não (u não nguyên phát) hoặc di căn từ các bộ phận khác đến não (u não thứ phát). Lựa chọn điều trị u não phụ thuộc vào loại u não, kích thước, vị trí u não và tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân.

Các loại hay gặp nhất ở người lớn là u màng não lành tính và u thần kinh đệm được gọi là u nguyên bào thần kinh đệm đa dạng (GBM). U não có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Một số loại (như u nguyên bào tủy) là phổ biến hơn ở trẻ em, và một số khác hay gặp hơn ở người lớn. Nhìn chung, các khối u mà có xu hướng xảy ra ở người lớn sẽ có tần suất mắc bệnh tăng theo tuổi. Di căn não thường gặp hơn u não lành tính và u não ác tính nguyên phát.

Theo PGS.TS Hà Kiệm, Bệnh viện 103 cho biết, nguyên nhân của đa số u não lành tính và u não ác tính chưa được biết rõ.Yếu tố di truyền có thể là một nguy cơ mắc bệnh cho một số người, có lẽ trong khoảng 1 trong 20 trường hợp. Ví dụ, những người có bệnh di truyền như đa u sợi thần kinh (Neurofibromatosis) type 1, hội chứng Turcot, hội chứng ung thư Li-Fraumeni, và bệnh xơ cứng củ (tuberous sclerosis) có nguy cơ bị u thần kinh đệm cao hơn so với mức trung bình của dân số. Khi những người này mắc bệnh u thần kinh đệm, nó hay xảy ra ở tuổi nhỏ hoặc thanh niên. Tuy nhiên những trường hợp này chỉ là một phần nhỏ của tất cả các u thần kinh đệm.

Triệu chứng ban đầu có thể bao gồm đau đầu và cảm thấy khó chịu. Đau đầu là do tăng áp lực nội sọ. Những triệu chứng này có thể có rồi hết và lại có, thường nặng hơn vào buổi sáng và nặng dần theo thời gian. Ho, hắt hơi và khom lưng có thể làm đau đầu nặng lên. Bệnh nhân u não cũng đôi khi bị co giật (động kinh). Khi khối u lớn có thể gây ngủ gà hay lơ mơ nhất là các u vùng trán.

PGS.TS Hà Kiệm cho biết thêm, khi khối u phát triển nó có thể gây tổn thương mô não xung quanh. Các chức năng của các cơ quan khác nhau trong cơ thể được điều khiển bởi các phân khu thần kinh tương ứng. Vì vậy, tùy theo vị trí và kích thước vùng não bi tổn thương mà u não sẽ biểu hiện ra các triệu chứng khác nhau.

Ví dụ những triệu chứng có thể xảy ra: Yếu một cánh tay, chân, một phần của khuôn mặt, hoặc mắt. Bất thường về thăng bằng, phối hợp động tác, khả năng nhìn, nghe, nói, giao tiếp hay nuốt. Không ngửi được mùi. Chóng mặt, đi đứng không vững. Tê hay yếu trong một phần của cơ thể. Lú lẫn, ngủ gà. Thay đổi nhân cách. Các triệu chứng liên quan đến thay đổi nội tiết tố, nếu là u tuyến yên. Những triệu chứng này có xu hướng phát triển nặng dần theo thời gian.

Các phương pháp điều trị u não chính bao gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và thuốc để kiểm soát các triệu chứng ví dụ như co giật. Việc lựa chọn một hoặc nhiều liệu pháp tùy từng trường hợp cụ thể, phụ thuộc vào các yếu tố như loại u, phân độ (grade) của khối u nếu nó là ác tính, vị trí của khối u và tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân. Phẫu thuật thường là điều trị chính cho u não lành tính và u não ác tính nguyên phát. Mục đích của phẫu thuật nhằm lấy bỏ mô u (hay chỉ một phần khối u) với tổn thương ít nhất có thể lên mô não lành.

P.Hằng